Sự kiện - Vấn đề

Monday 27/06/2022 00:06

Những dấu ấn nổi bật trong lịch sử phát triển 71 năm ngành Công Thương Việt Nam

16/05/2022 00:05
141 Lượt xem
TCCKVN Trong 71 năm hình thành và phát triển, ngành Công Thương đã để lại nhiều dấu ấn đậm nét, trong đó tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo và chuyển dịch cơ cấu hàng hóa, thị trường xuất khẩu là hai dấu ấn được xem là nổi bật trong kế hoạch phát triển ngành Công Thương thời gian qua.

Công nghiệp chế biến, chế tạo: Động lực tăng trưởng của nền kinh tế

71 năm qua, hòa cùng dòng chảy của lịch sử, đáp ứng từng giai đoạn phát triển của đất nước, Bộ Công Thương vẫn khẳng định vị trí quan trọng trong nền kinh tế đất nước, tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Quá trình tái cơ cấu ngành công nghiệp ngày càng đi vào thực chất hơn với xu hướng chuyển dịch khá rõ và tích cực theo đúng định hướng tái cơ cấu ngành. Tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu GDP tăng liên tục, từ 27,1% năm 2016 lên 28,5% năm 2019 và ước tăng 28,2% năm 2020. Đáng chú ý, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đã trở thành động lực tăng trưởng của toàn ngành công nghiệp. Quy mô của ngành công nghiệp chế biến chế tạo trong GDP tăng từ 14,27% năm 2016 lên 16,48% vào năm 2019 và 16,9% năm 2020.

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vai trò là động lực tăng trưởng của toàn nền kinh tế.

Năm 2021, mặc dù liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước với thị trường và chuỗi giá trị toàn cầu bị gián đoạn một thời gian do ảnh hưởng bởi đại dịch, nhưng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn tiếp tục giữ vai trò là động lực tăng trưởng của toàn nền kinh tế với tốc độ tăng  6,37% đóng góp 1,61 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Quý I/2022 vừa qua, giá trị tăng thêm của toàn ngành công nghiệp ước tăng  7,07% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,79%, đóng góp 2,05 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế.

Thị trường trong nước - Trụ đỡ nền kinh tế

Quá trình phát triển của ngành Công Thương, thị trường trong nước được chia ra nhiều thời kỳ, duy trì tăng trưởng ổn định và trở thành một trong những trụ đỡ quan trọng của nền kinh tế.

Thời kỳ đầu tiên xây dựng chế độ kinh tế mới ở Việt Nam (1945-1954) là giai đoạn khó khăn nhất, gian khổ nhất, nền kinh tế nông thôn, quy mô kinh tế rất thấp, tiềm lực yếu kém. GDP bình quân đầu người năm 1945 chỉ đạt 60 đồng, tương đương 35 USD. Đây cũng là giai đoạn nghiêm trọng nhất về lạm phát. Chỉ số giá bán lẻ bình quân năm trong giai đoạn 1945-1954 tăng khoảng 66%.

Bước vào thời kỳ 1955-1975, thương nghiệp quốc doanh được nhà nước quan tâm và có sự phát triển nhanh chóng, làm nhiệm vụ hậu cần cho sản xuất và chiến đấu. Tổng mức bán lẻ hàng hóa xã hội năm 1975 đạt 5.358,3 triệu đồng, gấp 7,8 lần năm 1955. Chỉ số giá bán lẻ giai đoạn 1955 -1975 mỗi năm tăng 4,3%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 66% của thời kỳ 1945-1954.

Thời kỳ 1976-1985, thực hiện hai kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội là Kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976-1980) và Kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1981-1985), Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh áp đặt từ trên xuống dưới. Thương nghiệp quốc doanh tuy phát triển nhanh, nhưng còn yếu. Chưa có nhiều hàng hoá, kể cả hàng nông sản - thực phẩm và hàng công nghiệp tiêu dùng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa xã hội bình quân thời kỳ này tăng 61,6%/năm. Kinh tế tăng trưởng chậm, năng lực sản xuất hàng hóa trong nước còn hạn chế làm mất cân đối cung – cầu (thiếu hụt nguồn cung), đồng thời do bị tác động bởi việc cải cách tiền lương vào năm 1985, là những nguyên nhân dẫn đến chỉ số giá bán lẻ tăng rất cao, bình quân giai đoạn 1976-1985 chỉ số giá bán lẻ tăng 39,53%/năm.

Thị trường trong nước tăng trưởng ổn định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.

Thời kỳ 1986-2006, nước ta đã thực hiện đường lối đổi mới, chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa, hình thành thị trường thống nhất khá ổn định và thông suốt trong cả nước; Hàng hoá cung ứng trên thị trường tăng trưởng với mức cao, trên 10%/năm, phong phú về quy cách chủng loại và chất lượng ngày càng được nâng cao, đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước và còn dư thừa để xuất khẩu, góp phần quan trọng giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế, ổn định đời sống của nhân dân; Kiềm chế được lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng tăng ở mức hợp lý đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội.

Giá bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng từ mức tăng 3 chữ số mỗi năm trong 3 năm, 1986-1988, hai chữ số mỗi năm trong thời kỳ 1989-1992 đã giảm xuống chỉ còn tăng một chữ số trong thời kỳ 1993-2000. So với tháng 12 năm trước, chỉ số giá tiêu dùng năm 1988 tăng 349,4%; năm 1992 tăng 17,5% và năm 2000 giảm 0,6%, năm 2006 tăng 6,6%. Đặc biệt, từ 1996 đến nay, không có các “cơn sốt” do quan hệ mất cân đối cung cầu gây ra ngay cả trong dịp lễ, tết hoặc lúc bị thiên tai.

Thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng, giai đoạn 2006-2010 thương mại trong nước đã bảo đảm cân đối cung cầu những mặt hàng trọng yếu cho nền kinh tế, đưa hàng hóa tới vùng sâu, vùng xa. Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ xã hội tăng qua các năm, năm 2010 đạt khoảng 1.677,3 nghìn tỷ đồng, tăng gần gấp 3 lần năm 2006 (596 nghìn tỷ đồng). Kết cấu hạ tầng thương mại được củng cố, đặc biệt là sự phát triển khá nhanh của các loại hình phân phối hiện đại, với đa dạng loại hình kinh doanh bán buôn, bán lẻ, đại lý và nhượng quyền thương mại. Hoạt động thương mại nội địa có sự tham gia của các thành phần kinh tế, trong đó, có cả thành phần nước ngoài.

Thị trường hàng hóa mở rộng và phát triển, hàng hóa dồi dào, lạm phát được kiểm soát ở mức hợp lý (CPI năm 2009 tăng 6,25%, năm 2010 tăng 11,75% so với tháng 12 năm trước).

Trong những năm qua, thương mại nội địa tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc tiêu thụ sản phẩm, đáp ứng nhu cầu về hàng hóa cho nhân dân và góp phần quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế. Trong cơ cấu GDP cả nước, giá trị tăng thêm của thương mại trong nước (bao gồm bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác) chiếm tỷ trọng ngày càng tăng qua các năm, từ 8% năm 2010 lên 10,1% năm 2015 và 11,2% năm 2019, tốc độ tăng trưởng bình quân giá trị tăng thêm thương mại trong nước giai đoạn 2011-2019 đạt khoảng 8,8%. Thị trường trong nước giai đoạn 2010-2020 đã duy trì được mức tăng trưởng ổn định, cung cầu hàng hóa được bảo đảm, đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng đa dạng và không ngừng tăng lên của sản xuất và đời sống xã hội.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong giai đoạn này tăng từ 1.677,3 nghìn tỷ đồng năm 2010 lên 3.223,2 nghìn tỷ đồng năm 2015 và 4.930,8 nghìn tỷ đồng năm 2019, riêng năm 2020 do chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19 nên tăng trưởng chỉ ở mức 2,62%. Tốc độ tăng trưởng bình quân tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giai đoạn 2011-2015 đạt 14%/năm; giai đoạn 2016-2019 đạt 11,2%/năm, tính chung cả giai đoạn 2011-2019 đạt 12,7%/năm.

Chỉ số giá hàng hóa được kiểm soát nhờ thực hiện tốt, từ 2016 đến 2020 đều đạt được mục tiêu do Quốc hội đề ra. CPI bình quân giảm từ 4,74% năm 2016 xuống 3,54% năm 2018, tiếp tục giảm còn 2,79% trong năm 2019 và ở mức 3,23% trong năm 2020.

Hội nhập kinh tế quốc tế - khẳng định vị thế Việt Nam trên trường quốc tế

Hội nhập kinh tế quốc tế là một chủ trương lớn của Đảng ta, là nội dung trọng tâm của hội nhập quốc tế và là một bộ phận quan trọng, xuyên suốt của công cuộc đổi mới. Bộ Công Thương đã tích cực triển khai thực hiện công tác đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) và các nhiệm vụ liên quan đến công tác hội nhập kinh tế quốc tế. Đến nay, Việt Nam đã hoàn thành ký kết 15 FTA ở cấp độ song phương và khu vực (trong đó đang thực thi 14 FTA, 1 FTA đã ký nhưng chưa có hiệu lực), và đang đàm phán 2 FTA. Trong số đó, nổi bật nhất là 3 FTA thế hệ mới gồm Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai-len (UKVFTA); và 1 FTA có quy mô lớn nhất thế giới trong khuôn khổ ASEAN là Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP).

Ngoài việc tham gia vào các FTA, trong quá trình hội nhập kinh tế ASEAN, Việt Nam cũng đã ghi nhiều dấu ấn quan trọng khi hoàn thành vai trò Chủ tịch ASEAN trong các năm 1998, 2010 và mới đây là năm 2020.

Việt Nam đã chủ động và tích vực tham gia vào các thiết chế kinh tế đa phương và khu vực, với các dấu mốc quan trọng như gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN - năm 1995), là thành viên sáng lập của Diễn đàn kinh tế Á – Âu (ASEM - năm 1998), trở thành thành viên của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC - năm 1998) và đặc biệt là gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO - năm 2007), đánh dấu sự hội nhập toàn diện vào nền kinh tế toàn cầu.

Việt Nam cơ bản định hình mạng lưới gồm 17 FTA và các khuôn khổ hợp tác kinh tế, thương mại với các trung tâm kinh tế hàng đầu. Điều này đã khẳng định được vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, cũng như ghi dấu mốc lịch sử quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trong suốt thời gian qua.

Xuất nhập khẩu: Tăng trưởng mạnh mẽ

Trong 71 năm hình thành và phát triển của ngành Công Thương, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam đã có sự thay đổi mạnh mẽ, trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng cũng như sự đổi mới sáng tạo của nền kinh tế.

Giai đoạn đầu, hoạt động ngoại thương đã đóng góp được một phần trong việc mở rộng quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và các nước. Năm 1955, hoạt động xuất khẩu chỉ được thực hiện bó hẹp với thị trường 10 nước, đến 1969 đã tăng lên 30 nước.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 6 của Đảng là dấu mốc quan trọng trong quá trình đổi mới tư duy quản lý, điều hành. Ngay từ những năm đầu thực hiện “đổi mới” và “mở cửa, nghị quyết của Đại hội Đảng đã thể hiện “xuất khẩu là mũi nhọn có ý nghĩa quyết định đối với nhiều mục tiêu kinh tế trong 5 năm này (1986-1990), đồng thời cũng là khâu chủ yếu của toàn bộ các quan hệ kinh tế đối ngoại”.

Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ thời kỳ 2001-2010, đã xác định: tiếp tục chủ trương dành ưu tiên cao nhất cho xuất khẩu, tăng tốc xuất khẩu trên mọi lĩnh vực; tạo nguồn hàng có chất lượng, có giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cao để xuất khẩu; góp phần giải quyết việc làm cho xã hội, tạo nguồn dự trữ ngoại tệ, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa…

Đề án Phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006-2010 với mục tiêu tổng quát: phát triển xuất khẩu với tốc độ cao và bền vững. Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có giá trị gia tăng cao, sản phẩm chế biến, chế tạo, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, giảm dần tỉ trọng hàng xuất khẩu thô. Kiềm chế mức nhập siêu hợp lý, thông qua thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, phát triển sản xuất các sản phẩm có lợi thế so sánh để bảo đảm nhu cầu trong nước, tiến tới cân bằng xuất khẩu-nhập khẩu vào những năm đầu sau năm 2010.

Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có giá trị gia tăng cao, sản phẩm chế biến, chế tạo, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, giảm dần tỉ trọng hàng xuất khẩu thô. 

Hoạt động xuất nhập khẩu có sự thay đổi mạnh mẽ.

Chiến lược Xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011 - 2020, định hướng đến năm 2030, trong đó đã đề ra định hướng chung như sau: Phát triển xuất khẩu theo mô hình tăng trưởng bền vững và hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô xuất khẩu, vừa chú trọng nâng cao giá trị gia tăng xuất khẩu; Chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu một cách hợp lý theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tập trung nâng nhanh tỷ trọng các sản phẩm xuất khẩu có giá trị gia tăng cao, sản phẩm chế biến sâu, sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, sản phẩm thân thiện với môi trường trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu.

Trong giai đoạn này, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đã đạt được những thành tựu ấn tượng, đóng góp quan trọng vào công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế của đất nước. Quy mô xuất nhập khẩu hàng hóa không ngừng được mở rộng và tăng cao, đóng góp lớn vào thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời gia tăng vị thế và nâng tầm ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong thời kỳ 2011-2020, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa tăng 2,7 lần, từ 203,6 tỷ USD năm 2011 tăng lên 545,3 tỷ USD năm 2020. Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa bình quân đạt 14,6%/năm. Về quy mô xuất khẩu, nếu như năm 2011, Việt Nam ở vị trí thứ 41 thì đến năm 2015 đã vươn lên vị trí thứ 32 và đến năm 2020 ở vị trí thứ 22. Về quy mô nhập khẩu, năm 2020 Việt Nam đã vươn lên vị trí 19 thế giới so với vị trí 33 của năm 2011. Diện mặt hàng xuất khẩu ngày càng đa dạng và phong phú. Số mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu từ 1 tỷ USD trở lên đã tăng qua các năm: năm 2011, có 21 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD; năm 2016 tăng lên 25 mặt hàng; đến năm 2020 là 31 mặt hàng. Từ năm 2016 đến nay, cán cân thương mại luôn ở vị thế xuất siêu.

Những năm 1955, các tổ chức kinh tế Việt Nam mới chỉ đặt quan hệ xuất nhập khẩu với các công ty Nhật Bản, Hồng Kông, Singapore, Sri Lanka,… và đến năm 1964, miền Bắc đã có quan hệ thương mại với 40 nước so với 10 nước của năm 1955. Tuy nhiên, đặc điểm cơ bản của hoạt động ngoại thương giai đoạn 1955- 1975 là xuất khẩu tăng chậm và xuất nhập khẩu của Việt Nam chủ yếu là các nước xã hội chủ nghĩa, các nước này chiếm từ 85% đến 90% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của ta với nước ngoài.

Bắt đầu từ năm 1986, hoạt động ngoại thương của Việt Nam mới thực sự có những bước tiến vượt bậc. Nhờ thực hiện chính sách mở cửa, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại đến nay, Việt Nam đã có quan hệ xuất nhập khẩu với hơn 100 nước và lãnh thổ thuộc đủ các châu lục trên thế giới.

Quan hệ thương mại với các nước thuộc khu vực châu Á, châu Mỹ, châu Đại dương tăng dần trong xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam; trong khi đó, quan hệ thương mại với khu vực châu Âu, đặc biệt là Đông Âu và các nước thuộc Liên Xô (cũ) giảm mạnh vào những năm 80 và nửa đầu 1990. Đến năm 2001-2010, hoạt động ngoại thương của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ. Việt Nam chính thức trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007. Tiếp đó là đàm phán FTA song phương với EU, Nhật Bản, Chi Lê được khởi động và thu được những kết quả quan trọng. Đến tháng 12/2008, Hiệp định đối tác kinh tế (EPA) với Nhật Bản được ký kết. Trong giai đoạn này, các thị trường chủ lực vẫn là Châu Á, châu Âu, Bắc Mỹ và châu Đại Dương. Trong đó, chủ yếu là: ASEAN, Nhật Bản, Trung Quốc, EU, Hoa Kỳ.

Còn trong giai đoạn năm 2011 – 2020, về cơ bản, khu vực châu Á vẫn là thị trường xuất khẩu truyền thống, quan trọng của Việt Nam với tỷ trọng ổn định trên dưới 50% trong tổng giá trị xuất khẩu ra thế giới. Tuy nhiên, Việt Nam cũng đã và đang không ngừng đa dạng hóa nhóm mặt hàng xuất khẩu theo từng thị trường cụ thể cũng như đa dạng hóa thị trường cho các nhóm mặt hàng cụ thể để linh hoạt với sự thay đổi của nhu cầu thị trường.

Tạo lập môi trường kinh doanh tự do, bình đẳng và cạnh tranh

Kể từ khi thành lập đến nay hệ thống pháp luật về thương mại và công nghiệp đã được Bộ Công Thương và các Bộ tiền nhiệm chú trọng hoàn thiện nhằm bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất và toàn diện của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh doanh thương mại và công nghiệp. Theo đó, Bộ Công Thương đã chủ trì xây dựng và trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành các văn bản luật, pháp lệnh quan trọng như: Luật Thương mại, Luật Quản lý Ngoại thương, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật Hóa chất, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dầu khí, Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực, Pháp lệnh Quản lý thị trường, Luật Cạnh tranh (sửa đổi), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Sở hữu trí tuệ... 

Bên cạnh đó, Bộ Công Thương đã chú trọng công tác xây dựng hệ thống văn bản quản lý ngành theo hướng gỡ bỏ các rào cản hành chính cho đầu tư, sản xuất, lưu thông sản phẩm công nghiệp thông qua việc ban hành các quy chuẩn của sản phẩm, hạn chế các công cụ quản lý hành chính. Các văn bản quy phạm pháp luật được trình/ ban hành đều tập trung vào việc tạo hành lang pháp lý rõ ràng cho các hoạt động kinh doanh thương mại, tạo cơ sở đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng, chống gian lận thương mại, đảm bảo thực thi các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

Xúc tiến thương mại- phương thức hỗ trợ xuất khẩu hiệu quả

Xúc tiến thương mại (XTTM) vẫn được đánh giá là hoạt động trọng tâm của ngành Công Thương trong nhiều năm qua. Trong giai đoạn 2003 – 2020 đã có trên 3.500 đề án XTTM quốc gia được phê duyệt với tổng kinh phí hỗ trợ trên 2.240 tỷ đồng. Đây là những đề án có trọng tâm, trọng điểm, bao gồm 3 nội dung: Xúc tiến xuất khẩu, XTTM thị trường trong nước và XTTM khu vực miền núi, biên giới, hải đảo. Các đề án đã hỗ trợ 84.600 lượt doanh nghiệp tham gia; tổng trị giá hợp đồng xuất khẩu hàng hóa được giao dịch và ký kết đạt trên 25,2 tỷ USD và 107 tỷ đồng.

Chương trình cấp quốc gia về XTTM đã tập trung hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam phát triển theo chiều sâu tại các thị trường truyền thống như Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc; quay trở lại thị trường Nga, Đông Âu; tăng cường hoạt động tại thị trường ASEAN; khai thác thị trường mới tại Trung Đông, Châu Phi và Mỹ La- Tinh. Chương trình cũng hỗ trợ cho các hiệp hội, ngành hàng tham dự hội chợ, triển lãm chuyên ngành chủ chốt trên thế giới giúp tạo ra hiệu ứng lan tỏa, đóng góp vào sự phát triển mạnh mẽ của các ngành trong thời gian qua. 

Ngành Công Thương Việt Nam đã trải qua biết bao thăng trầm cùng đất nước, nhìn lại 71 năm qua, mỗi cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của ngành đều vô cùng tự hào về những đóng góp to lớn đối với đất nước. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự quan tâm chỉ đạo sâu sát, kịp thời của Chính phủ, ngành Công Thương luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, quản lý bao trùm nhiều lĩnh vực, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển, hội nhập quốc tế của đất nước cũng như chăm lo đời sống cho nhân dân. Mỗi thành công của Cách mạng Việt Nam đều mang đậm dấu ấn thành tích của ngành Công Thương Việt Nam qua các thời kỳ. Vì vậy, Đảng và Nhà nước đánh giá rất cao những đóng góp của ngành Công Thương bằng những ghi nhận xứng đáng.

Bùi Diệu Linh

Có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số là động lực phát triển của Hải Phòng

Xác định chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm trong việc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, năm 2022 thành phố Hải Phòng lấy chủ đề năm "Đẩy mạnh chỉnh trang, hiện đại hóa đô thị - Xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu - Thực hiện Chuyển đổi số", phấn đấu trở thành 1 trong 10 địa phương của cả nước dẫn đầu về chuyển đổi số.

Doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo đang dần nối lại chuỗi cung ứng

Tại thời điểm này, các doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo đang dần thích ứng, đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, chủ động nối lại chuỗi cung ứng trong bối cảnh mới.

Khuyến công quốc gia năm 2023: Ưu tiên đổi mới công nghệ sản xuất

Theo hướng dẫn triển khai xây dựng kế hoạch khuyến công quốc gia năm 2023 của Cục Công Thương địa phương, hoạt động khuyến công năm 2023 sẽ ưu tiên cho các nội dung liên quan đến đổi mới công nghệ sản xuất.

Báo chí đã phát huy sức mạnh to lớn, tạo được niềm tin

Lễ trao Giải Báo chí Quốc gia lần thứ XVI (năm 2021) đã diễn ra vào ngày 21/6 tại Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Xô, đúng vào dịp kỷ niệm 97 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 – 21/6/2022). Đây là dịp để tri ân và tôn vinh các nhà báo đã cống hiến trí tuệ, sự nhiệt thành, tâm sức để mang đến cho độc giả, khán giả những tác phẩm báo chí có chất lượng cao.

TP. Hồ Chí Minh: Tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp

Nhằm lắng nghe những khó khăn, vướng mắc của các nhà đầu tư để có giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp hoạt động ổn định và phát triển sản xuất, Ban Quản lý các Khu Chế xuất và Khu Công nghiệp (KCX, KCN) Thành phố Hồ Chí Minh (Hepza) vừa tổ chức hội nghị gặp gỡ với tổng giám đốc các doanh nghiệp thuộc KCX Tân Thuận, KCN Hiệp Phước.
0904177637
  • Zalo
  • Messenger
  • Back to top